Vaccine COVID-19 liều tăng cường cho trẻ em 16-17 tuổi
Ngày 03/02/2022 Ủy ban Cố vấn Chuyên môn về Tiêm chủng Australia (ATAGI) đã mở rộng chỉ định của vaccine COVID-19 liều tăng cường cho trẻ em 16 - 17 tuổi, từ 3 tháng sau liều 2, bao gồm những trẻ vừa qua sinh nhật 16 sau khi chích liều 2.
Hiện tại chỉ có vaccine Pfizer Comirnaty được dùng cho liều tăng cường trên trẻ 16 -1 7 tuổi.
Trẻ 16 - 17 tuổi bị suy giảm miễn dịch nặng và đã chích 3 liều nên chích thêm liều tăng cường (liều 4) kể từ 3 tháng sau liều 3.
Trẻ đã bị nhiễm COVID-19 và đã qua 3 tháng sau liều 2 nên chích liều tăng cường ngay khi hồi phục, nếu trì hoãn thì không nên quá 4 tháng sau khi khỏi bệnh.
Vaccine COVID-19 liều tăng cường: 3 tháng sau liều 2
Số ca bệnh COVID-19 trong vài tuần qua đã tăng rất nhanh với biến chủng Omicron.
Ủy ban Cố vấn Chuyên môn về Tiêm chủng Australia (ATAGI) vừa đưa ra thông báo khuyến khích mọi người từ 18 tuổi trở lên nên chích vaccine COVID-19 liều tăng cường từ 3 tháng sau liều thứ hai.
Bệnh nhân có suy giảm miễn dịch nếu đã chích 3 liều vaccine COVID-19 cũng nên chích thêm liều tăng cường (liều 4) từ 3 tháng sau liều cuối.
Vaccine Comirnaty (Pfizer) hay Spikevax (Moderna) đều có thể được dùng cho liều tăng cường.
Vaccine AstraZeneca có thể được dùng nếu bệnh nhân có chống chỉ định với vaccine Pfizer và Moderna.
Xin mời quý bệnh nhân liên hệ với chúng tôi để biết thêm thông tin và đặt hẹn.
Vaccine COVID-19 liều tăng cường: 5 tháng sau liều 2
Ủy ban Cố vấn Chuyên môn về Tiêm chủng Australia (ATAGI) vừa đưa ra thông báo khuyến khích mọi người từ 18 tuổi trở lên nên chích vaccine COVID-19 liều tăng cường từ 5 tháng sau liều thứ hai.
(Thông báo trước đó vào ngày 28 Tháng Mười 2021 là 6 tháng).
Vaccine Comirnaty (Pfizer) hay Spikevax (Moderna) đều có thể được dùng cho liều tăng cường.
Xin mời quý bệnh nhân liên hệ với chúng tôi để biết thêm thông tin và đặt hẹn.
Vaccine COVID-19 Pfizer cho trẻ em 5-11 tuổi
Vào ngày 8/12/2021 Ủy ban Cố vấn Chuyên môn về Tiêm chủng Australia (ATAGI) đã chấp thuận việc sử dụng vaccine COVID-19 của hãng Pfizer cho trẻ em từ 5 tới 11 tuổi. Thông tin tóm tắt như sau.
- Chương trình sẽ bắt đầu từ ngày 10/01/2022 với vaccine Pfizer Comirnaty (lọ có nắp màu cam)
- 2 liều cách nhau 8 tuần (tối thiểu 3 tuần trong trường hợp trẻ đi du lịch nước ngoài, bị ức chế miễn dịch, hay trong các đợt dịch bùng phát).
- Trẻ bước qua tuổi 12 sau khi chích liều 1 sẽ được chích tiếp bằng vaccine người lớn cho liều thứ 2.
- Có thể được chích cùng lúc với các vaccine khác, khi đó các tác dụng phụ vừa và nhẹ có thể dễ xảy ra hơn.
- ATAGI khuyến khích trẻ từ 5 tới 11 tuổi chích ngừa COVID-19, tuy nhiên những trẻ không chích ngừa hay mới chích 1 liều sẽ không bị giới hạn hoạt động trong cộng đồng.
- Trẻ em đã bị nhiễm COVID-19 có thể chích ngừa ngay sau khi khỏi bệnh hoặc trì hoãn cho tới 6 tháng sau.
Phòng mạch chúng tôi sẽ có vaccine Pfizer dành cho trẻ em 5-11 tuổi từ ngày 10/01/2022. Xin mời quý bệnh nhân đặt hẹn.
Tin mới về vaccine COVID-19
Ủy ban Cố vấn Chuyên môn về Tiêm chủng Australia (ATAGI) vừa đưa ra khuyến cáo về vaccine liều tăng cường chống COVID-19. Thông tin tóm tắt như sau.
- Dành cho người trên 18 tuổi
- Trên 6 tháng kể từ liều vaccine thứ hai
- Bao gồm một liều vaccine Pfizer (kể cả khi 2 liều trước là vaccine loại khác)
- Vaccine AstraZeneca có thể được dùng làm liều tăng cường nếu vaccine Pfizer không thích hợp (ví dụ dị ứng phản vệ, hay viêm cơ tim)
- Vaccine COVID-19 liều tăng cường có thể được chích cùng lúc với vaccine cúm
- Những người có hệ miễn dịch suy giảm và đã được chích vaccine COVID-19 liều 3 hiện chưa có khuyến cáo về liều tăng cường (liều 4)
Tin mới về vaccine COVID-19
Từ ngày 1 Tháng Mười 2021, tất cả mọi người trên 12 tuổi (kể cả trên 60) được quyền lựa chọn vaccine COVID-19 (Pfizer, Moderna và AstraZeneca); trẻ em trên 12 tuổi được chọn giữa vaccine Moderna và Pfizer.
Những người đã chích mũi đầu của vaccine Astra Zeneca mà không bị tác dụng phụ nghiêm trọng nên chích tiếp mũi thứ hai cũng bằng vaccine AstraZeneca để có được miễn nhiễm tối ưu, không nên tìm cách chích vaccine mRNA cho mũi thứ hai.
Tại thời điểm này, chưa có thông tin cụ thể về việc chích liều nhắc lại. Cơ quan có thẩm quyền ATAGI sẽ đưa ra lời khuyên chính thức vào cuối Tháng Mười.
Tin mới về vaccine COVID-19
Kể từ ngày hôm nay 25 Tháng 8 Năm 2021
Mọi người từ 16 tới 59 tuổi sẽ được chích vaccine Pfizer tại các trung tâm chích ngừa của chính phủ (phải đặt hẹn trước). Những ai đã chích mũi đầu tiên với vaccine AstraZeneca sẽ được chích liều thứ hai cũng với vaccine AstraZeneca.
Trẻ em từ 12 tới 15 tuổi nếu có bệnh nền hay là thổ dân sẽ được chích vaccine Pfizer
Người trên 60 tuổi nếu có bệnh nền trong danh sách cũng sẽ được chích vaccine Pfizer. Chi tiết về các bệnh nền đó xin đọc thêm tại đường dẫn phía dưới.
Thuốc ngừa COVID-19 AstraZeneca và chứng rối loạn đông máu
Có một số ít trường hợp rối loạn đông máu được báo cáo tại Âu Châu sau chích ngừa COVID-19 với vaccine của hãng AstraZeneca.
Tại Úc cho tới nay có một trường hợp vào ngày 2 tháng Tư năm 2021. Trường hợp này đang được nghiên cứu rất kỹ bởi cơ quan có thẩm quyền - TGA (Therapeutic Goods Administration)
Những bệnh nhân bị nhức đầu nặng và kéo dài, xảy ra trong khoảng từ 4 tới 20 ngày sau khi chích ngừa, không đỡ khi dùng paracetamol hay các thuốc giảm đau khác nên tới gặp Bác Sĩ Gia Đình hoặc đi tới bệnh viện.
Những bệnh nhân có tiền sử Thuyên Tắc Xoang Tĩnh Mạch Nội Sọ (CVST) hay Giảm Tiểu Cầu Do Heparin (HIT) không nên dùng vaccine COVID-19 của hãng AstraZeneca cho tới khi có thêm thông tin mới.
Chích ngừa COVID-19
Thuốc ngừa nào, dành cho những ai?
Chính phủ Úc đã ký hợp đồng mua thuốc ngừa COVID-19 từ 3 hãng dược phẩm Pfizer/BioNTech, Oxford/AstraZeneca, và Novavax. Mỗi thuốc ngừa này đều cần 2 liều cách nhau từ 3 tới 12 tuần.
Trong tương lai, một số thuốc ngừa của các hãng khác cũng có thể được mua thêm theo thỏa thuận COVAX Facility nếu kết quả thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả tốt.
Thuốc ngừa COVID-19 miễn phí cho tất cả mọi người sống tại Úc nhưng không bắt buộc. Nếu bạn không muốn chích ngừa COVID-19, các khoản tiền trợ cấp từ chính phủ sẽ không bị cắt giảm.
Khi nào?
Giai đoạn 1a - khoảng 1.4 triệu liều
Nhân viên cửa khẩu và kiểm dịch. Nhân viên y tế tuyến đầu. Nhân viên và những người sống trong nhà dưỡng lão và các cơ sở nuôi người tàn tật.
Giai đoạn 1b - khoảng 15.8 triệu liều
Người từ 70 tuổi trở lên. Nhân viên y tế khác. Người thổ dân trên 55 tuổi. Người dưới 70 tuổi nhưng có bệnh nền hay tàn tật. Nhân viên các ngành nghề quan trọng hay có nguy cơ cao: quân đội, cảnh sát, các dịch vụ khẩn cấp và hãng thịt.
Giai đoạn 2a - khoảng 15.8 triệu liều
Người từ 50 tuổi tới 69 tuổi. Thổ dân từ 18 tới 54 tuổi. Nhân viên các ngành nghề quan trọng hay có nguy cơ cao khác.
Giai đoạn 2b - khoảng 16 triệu liều
Người lớn dưới 50 tuổi. Những người trong tiêu chuẩn các giai đoạn trên nhưng bị bỏ sót.
Giai đoạn 3 - khoảng 13.6 triệu liều
Trẻ em dưới 16 tuổi nếu cần (Pfizer vaccine)
Các câu hỏi thường gặp
Tôi có được chọn loại thuốc ngừa để chích không?
Không. Thuốc ngừa tốt nhất là loại thuốc ngừa có sẵn để bạn chích càng sớm sàng tốt.
Tôi bị dị ứng trứng có chích được không?
Được. Thông tin thêm từ Hội Dị ứng và Miễn dịch Lâm sàng Úc Châu: https://www.allergy.org.au/patients/ascia-covid-19-vaccination-faq
Tôi có thai hay cho con bú có chích được không?
Hiện chưa có đủ dữ liệu từ nghiên cứu lâm sàng, vì vậy thuốc ngừa COVID-19 hiện chưa được khuyến cáo dùng cho phụ nữ có thai hay đang cho con bú.
Nếu tôi bị phản ứng sau khi chích liều đầu tiên?
Nếu bạn bị phản ứng nhẹ ví dụ xỉu, hay nổi mẩn đỏ trên da (không phải mề đay): Bạn có thể chích liều thứ hai được
Nếu bạn bị dị ứng nhẹ hay vừa ví dụ mề đay: Bạn có thể chích liều thứ hai được, nhưng cần được theo dõi lâu hơn tại cơ sở y tế (ít nhất 30 phút)
Nếu bạn bị sốc phản vệ: Bạn sẽ được giới thiệu tới Bác sĩ Chuyên khoa Dị ứng.
Chích cùng thuốc ngừa cúm được không?
Thuốc ngừa cúm cần phải chích cách thuốc ngừa COVID-19 ít nhất 14 ngày
Thông tin và trang mạng về sức khỏe (phần lớn bằng tiếng Anh, sẽ được cập nhật thường xuyên)
Ráy tai
Da trong ống tai ngoài tự làm sạch bằng cách tiết ra một chất nhờn có màu vàng nâu. Chất tiết này có tác dụng tốt - bảo vệ ống tai và chống nhiễm trùng, bằng cách hấp thu các loại vi sinh, bụi đất và các chất kích ứng. Ráy tai ta thấy chính là hỗn hợp bao gồm chất tiết đó, da chết và bụi đất.
Ráy tai liên tục được di chuyển ra ngoài bởi chuyển động của xương hàm khi ta nói hay nhai. Đôi khi ráy tai ứ đọng lại và gây tắc nghẽn ống tai, làm giảm sức nghe, đau trong lỗ tai, ù tai, và đôi khi chóng mặt.
Ráy tai dễ bị đọng và gây tắc ống tai ở một số người
• Bẩm sinh chất tiết ở ống tai rất nhiều, khô hay đặc
• Ống tai hẹp hay có lông
• Thường xuyên ngoáy tai bằng tăm bông khiến ráy tai bị dồn vào trong và kích thích sự tiết chất nhờn. (Tăm bông còn có thể gây thủng màng nhĩ nếu ngoáy quá sâu).
• Làm việc trong môi trường nhiều bụi
• Bị viêm da, chẳng hạn như bệnh chàm (eczema)
• Đeo máy trợ thính
• Lớn tuổi
Để làm giảm bớt ráy tai gây tắc nghẽn ống tai:
• Dùng thuốc nhỏ làm mềm ráy tai như Cerumol, Ear Clear, Waxsol
• Tránh dùng tăm bông quá thường xuyên
• Điều trị các bệnh da gây tăng ráy tai chẳng hạn như eczema
Nếu các biện pháp trên không tác dụng và ống tai bị tắc nghẽn, bạn có thể dùng nước Oxy Già (Hydrogen Peroxide) để rửa như sau
Mua Hydrogen Peroxide 3% và dụng cụ nhỏ giọt tại nhà thuốc.
Nằm nghiêng, nhỏ từ 1- 3 ml vào lỗ tai (người lớn) hay 0.5 ml (trẻ em)
Xoa bóp nhẹ phía trước vành tai để thuốc ngấm vào tai. Chờ tới khi hết tiếng lèo xèo hay lép bép trong tai. Nghiêng tai để xả thuốc ra.
Ống tai sẽ tự khô trong một vài phút.
Nếu ráy tai quá đặc, bạn có thể rửa như cách này, 2 tới 3 lần mỗi ngày trong vòng 2 tuần. Lưu ý không dùng cùng lúc với thuốc kháng sinh nhỏ tai (nên dùng Hydrogen Peroxide rửa tai 30 phút trước đó)
Nên gặp lại Bác Sĩ nếu bạn thấy đau khi rửa tai hay ráy tai không sạch sau 2 tuần.
Rối loạn tiền đình - Chóng mặt lành tính
Nguyên nhân
Chóng mặt xảy ra khi có rối loạn ở cơ quan giữ thăng bằng cho cơ thể nằm ở tai trong. Trong tai trong có 3 ống bán khuyên, nằm theo 3 chiều khác nhau trong không gian. Khi ta nghiêng đầu hay thực hiện những động tác phức tạp nội dịch trong các ống bán khuyên sẽ di chuyển theo hướng ngược lại với động tác khiến áp suất lên các đầu sợi thần kinh nhận cảm thay đổi, giúp ta nhận biết được sự thay đổi đó và biết được vị trí đỉnh đầu của mình nằm ở hướng nào trong không gian.
Ở người bị chứng rối loạn tiền đình các ống bán khuyên có những hạt sạn rất nhỏ - chúng chuyển động và gây rối loạn cảm giác thăng bằng khi người bệnh làm những động tác di chuyển đầu nhanh, ví dụ như ngửa mặt lên, nằm nghiêng một bên, trở mình trên giường, hay cúi khom lưng xuống. Có một số nguyên nhân khác cũng có thể gây chóng mặt: chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não (đột quỵ), nhiễm trùng, hay rối loạn tuần hoàn.
Khi nào cần tới bệnh viện
Nên đến khám bác sĩ ngay hay tới bệnh viện nếu chóng mặt kèm theo thay đổi giọng nói (khó nói hay nói ngọng), nhìn đôi, dáng đi mất thăng bằng, khó nuốt (nghẹn hay sặc), yếu hay tê tay / chân, điếc hay ù tai.
Điều trị
Chứng chóng mặt lành tính thường bớt dần rồi tự hết. Nếu kéo dài bác sĩ có thể cho bạn uống thuốc và tập thể dục tiền đình (Brandt Daroff exercise) hay giới thiệu tới bác sĩ chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị.
Nên làm gì khi bị chóng mặt
Tránh quay đầu hay nằm nghiêng về phía gây chóng mặt
Tránh lái xe cho tới khi chóng mặt hết hẳn
Nên nằm ngủ với gối cao
Khi thức dậy nên ngồi dậy chậm rãi, chờ 1 phút mới bắt đầu đứng dậy đi
Tập thể dục tiền đình
Thể dục tiền đình BRANDT-DAROFF
Bài tập này giúp di chuyển các hạt sạn nhỏ trong các ống bán khuyên (nguyên nhân gây chóng mặt). Bài tập này chỉ có hiệu quả nếu gây ra chóng mặt trong khi tập. Tuy nhiên triệu chứng chóng mặt sẽ bớt dần sau khi tập một thời gian.
1. Ngồi ở cạnh mí giường, quay đầu 45o sang trái rồi nằm thật nhanh xuống phía bên phải, đầu sát mặt giường. Bạn sẽ thấy chóng mặt – chờ 30 giây chóng mặt sẽ bớt dần
2. Ngồi dậy, chờ 30 giây để chóng mặt bớt đi
3. Lặp lại động tác về phía bên kia: quay sang phải và nằm nhanh xuống bên trái
4. Làm mỗi bên 5 lần, tập 3 lần mỗi ngày
Bệnh nhiễm virus Vũ Hán - Coronavirus COVID-19
COVID-19 là bệnh nhiễm virus lây truyền qua đường hô hấp từ những giọt nước vi thể văng ra khi bệnh nhân ho, hắt xì, hay nói chuyện. Người mang virus nhưng không có triệu chứng vẫn có thể lây truyền sang người khác. Hiện chưa có thuốc ngừa và thuốc điều trị. Một số lượng lớn dân số có thể sẽ bị nhiễm virus, nhưng hầu hết chỉ bị bệnh nhẹ. Tuy nhiên một số ít người có nguy cơ cao sẽ bị bệnh rất nặng, cần phải điều trị tích cực trong bệnh viện.
Chúng ta cần làm chậm tiến độ lây truyền bệnh để những người bệnh nặng có đủ giường điều trị trong bệnh viện. Nếu bệnh lây lan quá nhanh, số bệnh nhân nặng quá nhiều, bệnh viện sẽ bị quá tải.
Nếu khỏe, tôi nên làm gì?
Rửa tay thường xuyên. Trước và sau khi tới chỗ công cộng. Trước khi ăn hay sờ lên mặt. Rửa bằng nước và xà bông trong 30 giây
Tránh tới chỗ đông người. Cố gắng giữ khoảng cách 1.5 mét tới người gần nhất
Hoãn các cuộc hội họp hay vui chơi, họp mặt gia đình
Tránh đi phương tiện giao thông công cộng
Làm việc tại nhà nếu được
Tránh tiếp xúc cơ thể - bắt tay, ôm hôn, …
Đeo khẩu trang theo khuyến cáo của Bộ Y Tế
Thăm hỏi người già yếu, giúp họ mua đồ ăn uống và nhu yếu phẩm
Nếu tôi bị bệnh, tôi nên làm gì?
Ở NHÀ, NGHỈ NGƠI. TRÁNH RA NGOÀI
Tránh tiếp xúc với nhiều người. Giữ khoảng cách an toàn, kể cả với người ttrong nhà
Rửa tay thường xuyên với xà bông. Che miệng mũi khi ho hay hắt xì.
Lau phòng tắm, toilet, bếp, bàn, ghế sau khi dùng bằng các loại thuốc rửa có tác dụng diệt virus chẳng hạn như Glen 20
Chỉ trở lại hoạt động bình thường khi hết hẳn các triệu chứng bệnh ít nhất 3 ngày
Người bệnh cần cách ly ít nhất 1 tuần kể từ ngày bắt đầu bệnh.
Đeo khẩu trang khi ra khỏi phòng riêng.
Ở trong phòng thông thoáng, mở cửa sổ và giữ cự ly cách xa người trong nhà. Rửa tay thường xuyên và vệ sinh bề mặt các vật dụng trong nhà.
Những người trong nhà nếu không có triệu chứng sẽ cần cách ly 14 ngày.
Tôi có cần thử virus không?
Tiêu chuẩn xét nghiệm do chính phủ đưa ra và đòi hỏi tuân thủ chặt chẽ. Các tiêu chuẩn này thay đổi tùy tình hình bệnh dịch.
Nói chung, bạn không cần thử nghiệm nếu bạn không có triệu chứng, không đi du lịch trước đó, không tiếp xúc gần với người đang nhiễm COVID-19, hay không phải là nhân viên y tế. Tuy nhiên, khuyến cáo này có thể thay đổi nếu tình hình bệnh dịch tiến triển khác đi.
Nếu đúng tiêu chuẩn thử, bạn có thể tới một trong các địa chỉ đăng tại trang mạng sau (thông tin ngày 18/03/2020)
www.dhhs.vic.gov.au/victorian-public-coronavirus-disease-covid-19
Để biết rõ hơn về tiêu chuẩn xét nghiệm, xin truy cập vào trang mạng của Bộ Y Tế.
Hãng / trường tôi đòi hỏi giấy chứng nhận của Bác Sĩ mới cho làm việc hay đi học
Bác Sĩ không thể cấp giấy chứng nhận rằng bạn không có bệnh coronavirus. Bạn chỉ có thể được xét nghiệm khi bạn đúng tiêu chuẩn do Bô Y Tế đưa ra.
Nếu muốn biết thêm chi tiết, xin gọi Bộ Y Tế tại số 1800 675 398
Làm sao biết khi nào bé bệnh nặng?
A, B, C, NƯỚC VÀO, NƯỚC RA
Cách đơn giản để đánh giá mức độ nặng khi bé bị bệnh: A,B, C, Nước vào, Nước ra
A - Activity (Hoạt động)
Bé có thể bệnh nặng nếu ngủ nhiều, khó đánh thức, không hoạt bát như thường ngày. Càng lờ đờ thì nguy cơ bệnh nặng càng cao. Tuy nhiên nếu vẫn có những khoảng thời gian trong ngày bé tỉnh táo và chơi giỡn như thường thì nguy cơ thấp hơn.
B- Breathing (Hô hấp)
Bé khó thở khi da phía trên xương ức lõm vào hay khoảng giữa các xương sườn co kéo khi hô hấp
C- Circulation (Tuần hoàn)
Tuần hoàn kém khi bé xanh tái đột ngột và kéo dài hoặc chân lạnh ngắt từ bàn chân cho tới đầu gối
Nước vào
Lương sữa bú ít hơn một nửa so với ngày thường. Nếu bú mẹ bạn nên theo dõi số lần bú và thời gian bú trong 24 giờ (không kể thời gian ngậm mà không bú)
Nước ra
Những bé dưới 6 tháng mà chỉ ướt chưa tới 4 tã lót trong 24 giờ sẽ có nguy cơ mất nước cao.
Nguy cơ bệnh nặng cao hơn nếu bé có nhiều trong số những dấu hiệu trên. Dấu hiệu nguy hiểm nhất là bé lờ đờ ngủ nhiều, xanh tái và sốt cao. Lúc bệnh mới bắt đầu là lúc bệnh có thể diễn tiến phức tạp, nên thận trọng.
Tới Bác Sĩ ngay nếu bé:
Xanh tái, lờ đờ và sốt cao
Xanh tái, không hoạt động và không khóc như thường ngày
Nôn ói ra dịch màu xanh
Co giật
Ngừng thở trên 15 giây
Dị ứng trứng vẫn chích ngừa cúm được
Dị ứng trứng (kể cả sốc phản vệ) không phải là chống chỉ định cho vaccine ngừa cúm.
Người bị sốc phản vệ với trứng vẫn có thể được chích vaccine ngừa cúm tại những cơ sở y tế mà nhân viên có kinh nghiệm trong việc phát hiện và điều trị sốc phản vệ.
Phòng mạch chúng tôi luôn có sẵn phương tiện và thuốc điều trị sốc phản vệ
Chích ngừa sởi miễn phí cho trẻ em đi du lịch
Trẻ em từ 6 tháng tới dưới 11 tháng nên chích ngừa sởi - quai bị - rubella (miễn phí) trước khi đi du lịch.
Liều vaccine sởi - quai bị - rubella theo lịch thông thường lúc 12 tháng và sởi - quai bị - rubella - thủy đậu lúc 18 tháng tuổi vẫn cần được chích.
Vaccine sởi - quai bị - rubella cũng được cấp miễn phí cho người sinh trong hay sau năm 1966 nếu họ chưa từng được chích hay nếu kết quả thử máu cho thấy không có kháng thể.
Xin vui lòng đặt hẹn gặp bác sĩ ít nhất 1 tháng trước chuyến đi để nghe lời khuyên khi đi du lịch và lên kế hoạch chích ngừa.